TIN MỪNG CHUYỂN THƠ: (Giu-se Nguyễn văn Sướng)



    TIN MỪNG THEO THÁNH GIO-AN


            CHƯƠNG 7.
 











1. Ga-li-lê chốn quen thân
Người hay qua lại với dân chẳng nề
Nhưng ít lui tới Giu-đê
Vì nơi chốn ấy toan bề diệt tru
2. Lễ Lều Do Thái cận kề
Anh em Ngài đến bảo về Giu-đê:
"Bỏ đây mà đến Giu-đê
Để cho môn đệ thấy về việc anh
4. Vì không ai muốn vang danh
Lại đi hoạt động vô thanh âm thầm
Nếu ông điềm lạ đồn ầm
Tỏ cho thiên hạ cam tâm phục tùng"
5. Thật là anh em bất dung
Chỉ vì họ chẳng tin hung chi Người
6. Giê-su bảo họ: " Các ngươi 
 Lúc nào thời cũng thuận mười ra khơi
Nhưng thời tôi chưa đến nơi
7. Thế gian không thể ghét đời các anh
Nhưng tôi, nó ghét rành rành
Vì tôi chứng việc nó thành xấu xa
8. Các anh dự lễ nhẩn nha
Phần tôi tránh lễ này và không đi
Thời tôi chưa chín, hay gì!"
9. Ga-li-lê, Chúa thầm thì ở đây
10. Khi anh em đã đi rầy
Thì Ngài lặng lẽ gót giầy theo sau
11. Người Do Thái tìm hỏi nhau:
"Lễ này ông ấy lâu mau ở rày?"
12. Toàn dân bàn tán về "Thày"
Người thì: "Ông tốt!", kẻ rày: "Mị dân" 
13. Nhưng chẳng dám nói giữa dân
Sợ người Do Thái, thiệt thân, khốn mình
14. Giữa kỳ lễ, bỗng thình lình
Giê-su, Đền Thánh một mình giảng rao
15. Người Do Thái ngạc nhiên sao
"Ông này đã chẳng học cao, thế mà
Biện minh phân giải sâu xa!"
16. Đức Giê-su nói: "Chẳng là của tôi
Tôi không tự ý nói thôi
Đạo tôi do Đấng sai tôi đã truyền
17. Ai làm theo ý Chúa nguyền
Biết rằng đạo ấy uyên nguyên bởi Trời
Không do tôi tự rao lời
18. Hễ ai tự ý dạy lời cho dân
Thì tìm vinh quang bản thân
Ai tìm cho Đấng sai mình vinh quang
Là người chân thật đàng hoàng
Không gì bất chính huyênh hoang nơi người
19. Mô-sê ban luật các ngươi
Thế mà chẳng giữ luật Người đã ban
Sao tìm cách giết tôi càn?"
20. Dân cười: "Quỷ ám ông tràn hay sao
Có ai tìm giết ông nào?"
21. "Tôi làm một việc mà sao mọi người
Ngạc nhiên, xét nét nực cười
22. Mô-sê truyền cắt bì người nơi nơi
(Cắt bì tổ phụ truyền đời
Chứ không phát xuất từ thời Mô-sê)
Các ông sốt sắng chẳng nề
Cắt bì, Sa-bát không hề nghỉ ngơi
23. Ngày Sa-bát cắt bì thời
Để không lỗi luật truyền đời Mô-sê
Thì sao nổi giận nặng nề
Khi tôi chữa bệnh giải mê cho người
Vào ngày Sa-bát sáng tươi
Đừng nên xét đoán mười mươi bên ngoài
Công minh đoán xét nghiêm oai"
25. Bấy giờ những kẻ đoái hoài nhỏ to:
"Ông này chẳng thấy âu lo
Kìa bao nhiêu kẻ quanh co hại Ngài
26. Ông ta ăn nói công khai
Mà sao chẳng thấy một ai nói gì
Hay là hữu trách thấy chi
Nhận nhìn thật sự chính vì Ki-tô?
27. Xuất thân ông ấy biết rồi
Đấng Ki-tô đến thì thôi, mịt mờ!"
28. Vậy đang giảng dạy đền thờ
Giê-su lớn tiếng: "Các người biết ư?
Biết tôi xuất thân nữa ư?
Tôi đâu tự đến, nhưng từ Chúa Cha
Đấng chân thật đã sai Ta
Các ngươi đâu biết được Cha muôn người
29. Phần tôi thì tôi biết Người
Vì tôi đã đến từ Người cao xa
Chính Người là Đấng sai Ta"
30. Bấy giờ họ mới manh nha hại Người
Nhưng không có ai bắt Người
Vì giờ chưa đến nên Người chẳng sao
31. Dân tin, bàn tán xôn xao:
"Đấng Ki-tô đến lẽ nào hơn ông?
Ông này dấu lạ thần thông"
32. Nghe dân bàn tán Người không ngớt lời
Nên bè Biệt Phái rối bời
Họp cùng Thượng Tế cho vời vệ binh
Quyết tâm bắt Chúa thật tình
33. Vậy Giê-su nói: "Quả tình chẳng lâu
Ở cùng các ông nữa đâu
Rồi tôi đi đến chầu hầu cùng Cha
34. Các ông vất vả tìm Ta
Nhưng không gặp được nơi Ta ở vì
Các ông không thể làm chi"
35. Người Do Thái lại xầm xì: "Ông ta
Phải chăng sắp sửa đi xa?
Sống ngoài hải ngoại hay là giảng rao
Cho người Hy Lạp kiều bào
36. Ông ta muốn nói ra sao mà rằng:
Tìm Ta sẽ chẳng gặp chăng
Và không đến chỗ Ta hằng ở đâu!"
37. Vậy hôm bế mạc Lễ Lều
Là ngày trọng nhất Chúa kêu lớn rằng:
38. "Ai khát hãy đến với Ta
Ai tin hãy đến uống và thỏa thuê
Thánh Kinh đã chép đề huề:
Từ lòng Người nước tràn trề, hằng sinh"
39. Ý Ngài nói về Thánh Linh
Kẻ tin sẽ nhận, hiện tình vẫn chưa
Vì Ngài chưa được tôn vinh
40. Trong dân lắm kẻ đồng tình đồn vang:
"Ông này Ngôn sứ rõ ràng!"
41. Có người phát biểu: "Ngàn vàng Ki-tô!"
Nhưng người khác lại ngây ngô:
"Ga-li-lê có Ki-tô hở trời?
42. Thánh Kinh minh chứng ngàn đời:
Đấng Ki-tô xuất dòng đời Thánh Vương
Bê-lem Đa-vít cố hương"
43. Dân bèn chia rẽ trăm phương vì Người
44. Đôi kẻ còn muốn bắt Người
Nhưng không ai dám dể ngươi thi hành
45. Vệ binh về báo ngọn nghành
Thượng Tế, Biệt Phái giận cành hông ra:
"Sao không điệu cổ ông ta?"
46. Vệ binh thưa lại: "Thật là xưa nay
Chưa ai nói năng như Thày"
47. Biệt Phái mai mỉa: "Chúng mày ngu si
48. Xem hàng thủ lãnh oai nghi
Hay hàng Biệt Phái tin gì ông ta?
49. Đồ dân đen, lũ thối tha
Không thông lề luật đáng ra rủa nguyền"
50. Trong bè Biệt Phái chính chuyên
Có người từng bái phục quyền Ki-tô
Ông tên Ni-cô-đê mô
51. Ông bàn cùng họ: "Khoai ngô chưa tường
Làm sao kết án cho đương?
Khi chưa nghe nói, chưa tường việc xem!"
52. Chúng rằng: "Ông bạn lem nhem
Ga-li-lê cũng đính kèm cả ông
Từ Ga-li-lê thành công
Xuất ra Ngôn Sứ nào không, thưa ngài?"
53. Ai về nhà nấy, các ngài.
                            *
                         *     *
                                          (Còn tiếp)

THƠ: NỬA KHÁC BIỆT HUYỀN SIÊU






   NỬA KHÁC BIỆT HUYỀN SIÊU.




 Em một nửa gắn vào tôi một nửa
Hai nửa thành một méo mó vênh vênh
Hai cuộc đời khác biệt đến chông chênh
Dây hôn phối đường đời Ai thắt cột.

Bao sóng gió tưởng tình yêu thui chột
Giữa trụi trần tình ngỡ chết trong nhau
Tình trần gian là lẫn lộn vàng thau
Em lửa ròng luyện vàng tôi rực sáng.

Em hoa đẹp lắm gai cho xứng đáng
Em đàn bà, đàn muôn điệu du dương
Em đa đoan, nhất thế giới cô nường
Là nốt nhạc vừa thăng liền vội giáng.

Cá tính nào hợp dần theo năm tháng
Góc cạnh nào em mài nhẵn trong tôi
Yêu chết đâu phải chỉ một ít thôi!
Nên vì thế yêu cùng nhìn một hướng.

Chuyện vợ chồng ai bảo là nghiệp chướng?
Ai yêu mà chẳng nếm thú đau thương!
Em bên tôi đi tận cuối con đường
Tình vẫn đẹp dẫu tình không dang dở.

Tôi yêu em thuở ban đầu bỡ ngỡ
Tôi yêu em nửa khác biệt huyền siêu
Tôi vẫn yêu em nhạt nét son chiều
Yêu êm đềm, tình vào đêm huyền nhiệm.
  --------------------------------------------
   Giu-se Nguyễn văn Sướng.



TIN MỪNG CHUYỂN THƠ (Giu-se Nguyễn văn Sướng)




       TIN MỪNG THEO THÁNH GIO-AN


           

              CHƯƠNG 6.


 1. Bên kia biển Ga-li-lê
Gọi là hồ biển Ti-bê-ri-a
2. Đoàn dân đông đảo người ta
Từng theo chứng kiến bao là điềm thiêng
3. Giê-su lên núi ở riêng
Cùng đoàn môn đệ khỏi phiền đến dân
4. Vượt Qua, đại lễ đã gần
5. Nhìn quanh Chúa thấy đoàn dân chưa về
Ngài quay hỏi Phi-líp-phê:
“Ta mua đâu bánh no nê họ dùng?”
6. Đấy là Chúa thử chung chung
Chứ Ngài biết việc cuối cùng ra sao
7. Phi-líp-phê đáp: “Ôi chao!
Hai trăm đồng bạc thấm vào đâu mô”
8. An-rê anh của Phê-rô
Liền thưa với Chúa: “Lương khô, thưa Thầy    
9. Năm bánh hai cá em đây"
10. "Anh em cứ bảo ngồi đầy cả đi"
Đồng hoang cỏ dại xanh rì
Năm ngàn tráng hán kể gì phụ nhân
11. Giê-su cầm bánh tạ ân
Rồi sai phân phát cho dân hưởng dùng
Cá ngon cũng được chia chung
Tùy nghi ăn uống thung dung chẳng nề
12.  Khi đoàn dân đã no nê
Người sai môn đệ: "Thu về của dư"
13. Từ năm bánh, ăn ngất ngư
Mười hai thúng bánh vụn dư đầy tràn
14. Dân xem dấu lạ thở than:
"Sứ ngôn, Đấng đến thế gian đây rồi"
15. Biết dân muốn bắt lên ngôi
 Giê-su lánh mặt lên đồi thân cô
16. Chiều, môn đệ xuống biển hồ
17. Đi về Ca-phác(na-um) phía hồ bên kia
Giê-su còn ở núi kìa
18. Sóng to gió thổi áp rìa thuyền nan
Chèo xa ba, bốn dặm ngàn (Khoảng 5, 6km)
Người đi trên nước bước càn đến bên
Các ông sợ hãi kêu rên
20. Giê-su vội cất tiếng lên vỗ về:
"Thầy đây đừng sợ mỏi mê"
21. Các ông định rước Người về thuyền ngơi
Lạ kìa, thuyền đã đến nơi
22. Hôm sau chốn cũ dân tơi bời tìm
Thuyền thì đã bặt cánh chim
Nhưng Giê-su lại không đi cùng thuyền
23. Từ Ti-bê-ri-a nguyên
Nhiều thuyền đến chốn Chúa truyền bánh ngon
24. Vậy khi dân biết chẳng còn
Chúa và môn đệ không còn ở đây
Họ cùng xuống những thuyền nầy
Kéo sang Ca-phác-na-um tìm Người
25. Bên kia biển gặp lại Người
Họ thưa: "Thầy đã xuống đây bao giờ"
26. "Không phải vì dấu bất ngờ
Các ông tìm kiếm mong chờ nơi tôi
Chẳng qua ăn bánh no thôi
27. Các ông hãy cố tài bồi mong sao
Đừng vì lương thực hư hao
Nhưng vì lương thực sang cao trường tồn
Con Người ban tặng các ông
Vì Ngài là Đấng Cha công nhận rồi"
28. Họ liền hỏi Chúa: "Chúng tôi
Làm gì đúng ý Chúa thôi, thưa Thày?"
29. Người rằng: "Ý muốn Cha nay
Là tin vào Đấng Cha rày sai đi"
30. "Vậy ông làm dấu lạ gì
Chúng tôi nhìn thấy diệu kỳ mà tin
31. Tổ tiên ăn bánh Man-na
Trong hoang địa vắng bao la có lời:
(Người cho họ bánh bởi Trời).
32. “Thật tôi bảo, bánh bởi Trời từ Cha
Mô-sê lấy bánh đâu ra
Cho dân ăn khỏi kêu ca phàn nàn
Bánh bởi Trời chính Cha ban
33. Từ Trời bánh xuống Chúa ban cho đời
Thế gian sự sống đời đời"
34. Họ thưa: "Bánh xuống bởi Trời trường sinh
Xin cho ăn bánh thần linh"
35. "Chính tôi là bánh trường sinh cho đời
Kẻ nào tin đến tôi thời
Không hề đói khát một đời hằng sinh
36. Phần tôi đã nói thật tình
Các ông dù thấy quyết tình chẳng tin
37. Ai, Cha ban Ta, đến Ta
Thì Ta, Ta chẳng loại ra đời đời
38. Vì Ta xuống thế từ Trời
Để làm theo ý Chúa Trời sai Ta
Chứ không theo ý của Ta
39. Ý Cha, Đấng đã sai Ta thế này:
Những người Cha ban Ta rày
Ta không để mất dù ngay một người
Nhưng ngày sau hết vui cười
Ta cho sống lại vẹn mười hiển vinh
40. Ý Cha quả thật chí tình
Hễ ai trông thấy Con mình mà tin
Thì ban sự sống đời đời
Ta cho sống lại rạng ngời ngày sau"
41. Người Do Thái bàn cùng nhau
Lập tâm chống đối trước sau vì lời:
"Chính Ta là Bánh bởi Trời"
42. "Ông này", họ nói, "Ai đời lộng ngôn
Con Giu-se ở trong thôn
Giê-su ngày bữa mẹ cha lạ gì
Thế mà ăn nói những chi
(Ta từ Trời xuống) dị kỳ nghênh ngông"
43. Chúa rằng: "Xầm xì mất công
44. Sẽ không ai đến được cùng Ta đâu
Nếu Cha là Đấng nhiệm mầu
Không lôi kéo nó cưỡng cầu đến Ta
Phần Ta ơn Thánh hằng hà
Sẽ cho sống lại hoan ca ngày về
45. Có lời xưa đã chép hề:
"Mọi người được Chúa vỗ về bảo ban"
Phàm ai nghe nhận lời vàng
Của Cha thì đến vững vàng với tôi
46. Không ai đã thấy Cha rồi
Trừ ra Đấng đến tự Ngôi Cao Vời   
Đấng ấy chiêm ngắm Chúa Trời
47. Thật, tôi bảo thật đây lời hằng sinh
Ai tin được sống vĩnh sinh
48. Ta là tấm bánh trường sinh ngọc ngà
49. Tổ tiên đã ăn Man-na
Nhưng rồi đã chết trên sa mạc này
50. Bánh từ Trời xuống quý thay
Ai ăn khỏi chết đọa đày đời sau
51. Ta: Bánh Hằng Sống từ Trời
Ai ăn được sống muôn đời huyền linh
Bánh tôi ban tặng: Thịt mình
Để cho trần thế vĩnh sinh nhiệm mầu"
52. Người Do Thái tranh luận sâu:
"Ông này lấy thịt ngõ hầu nuôi ta?"
53. Đức Giê-su phán sâu xa:
"Thật, tôi bảo thật nếu mà các ông
Không ăn thịt, uống máu hồng
Của Con Người các ông không sống đời
54. Ai ăn thịt, uống máu thời
Ta cho sự sống đời đời, còn ban
Ngày sau sống lại rỡ ràng  
55. Thịt tôi chính thật lương vàng để ăn
Máu tôi của uống cội căn
56. Uống ăn máu thịt Ta, hằng trongTa
Ta trong người ấy mặn mà
57. Như Cha hằng sống sai Ta thế nào
Nhờ Cha, Ta sống ra sao
Kẻ ăn Ta sống dồi dào nhờ Ta
58. Đây Bánh bởi Trời sâu xa
Không như bánh của ông cha xưa dùng
Họ ăn và chết: Luật chung
Bánh này ăn sống vô cùng đời sau"
59. Đó là lời dạy Giê-su
Hội đường Ca-phác-na-um rao truyền
60. Nghe rồi môn đệ huyên thuyên:
"Lời gì chướng quá phục quyền sao đang!"
61. Giê-su biết các anh chàng
Xầm xì bàn tán ngang tàng không tin
Người hỏi để các ông tin:
"Chướng tai đến chẳng nhận nhìn được sao?
62. Nếu anh thấy được Trời Cao
Nơi Con Người ở ngôi cao uy quyền
63. Thần Khí làm sống tinh tuyền
Ích gì xác thịt vô duyên nặng nề
Lời Thầy nghe tưởng chán chê
Nhưng là Thần Khí dẫn về vĩnh sinh
64. Anh em có kẻ không tin!"
Từ đầu Người biết ai tin ai đừng
Và ai nộp Chúa giữa chừng
65. "Thế nên Thầy nói đã từng không ai
Tìm Thầy mà được chẳng sai
Nếu Cha ơn thánh lòng Ngài chẳng ban"
66. Nhiều môn đệ dạ bất an
Rút lui chẳng muốn liên can đến Ngài
67. Giê-su hỏi nhóm Mười Hai:
"Cả anh em nữa đường dài bỏ đi?"
68. Si-môn Phê-rô tức thì:
"Bỏ Thầy con biết làm gì, theo ai?
Lời Thầy chân thật chẳng sai
Lời đem sự sống đời dài cho con
69. Chúng con tin nhận sắt son
Thầy là Đấng Thánh, là Con Chúa Trời"
70. Giê-su đáp: "Thầy chọn mời
Mười hai môn đệ gieo Lời trường sinh
Thế mà một người tự khinh
Trở thành quỷ dữ thiệt mình vong thân”
71. Ý Người, Giu-đa tính bần
Ít-ca-ri-ốt ôn thần đích danh
Chính y nộp Chúa rành rành.
                    *
                *      * 
                                (Còn tiếp)

TRUYỆN NGẮN: MÙI VỊ HẠNH PHÚC






                                                 MÙI VỊ HẠNH PHÚC.

        Ông Phúc lắng nghe sự huyên náo ở nhà bên, tiếng trẻ tranh dành và tiếng ông Định láng giềng đang nạt lũ trẻ. Ông Phúc biết chúng đang tranh ăn dĩa thịt gà luộc mà vợ ông mới bưng qua.
        Hồi chiều khi làm thịt con gà, bà Phúc có bàn với ông, biếu cho nhà ông Định nửa con, ông đã cười phá lên làm vợ ông chưng hửng. Bà gặng hỏi thì ông chỉ cười cười mà không giải thích. Thật ra ông đã nghĩ đến cảnh giành ăn của lũ trẻ tối nay rồi, nửa con thì thấm vào đâu với gia đình ông Định cơ chứ!
        Vợ chồng ông Định rất đông con, những mười bốn đứa! Hai vợ chồng lam lũ suốt ngày mà vẫn nghèo rớt mồng tơi chỉ vì lũ trẻ. Giá mà nhà ấy chia sẻ cho vợ chồng ông lấy vài đứa, hay ít ra được một đứa! Ông thấy buồn buồn vì ý nghĩ ấy. Hai ông bà ăn ở với nhau dễ thường hai mươi mấy năm rồi mà không có mụn con nào! Mới đầu hai ông bà cũng đưa nhau đi khám, chạy chữa hết chỗ này, chỗ nọ. Rồi cũng bao lần hành hương, khấn vái mà vẫn chẳng được nhận lời. Giờ thì ông bà nhận ra Thánh Ý Chúa, bằng lòng xin vâng cảnh son sẻ.
          Ông Phúc cứ đứng thế, nghiêng tai nghe lũ trẻ hàng xóm dứt lác, gương mặt ông như đờ ra trong nỗi khát khao có con trẻ mà không hay vợ ông đang khẽ khàng đặt đĩa thịt gà luộc nóng hổi lên bàn. Bà biết tâm trạng của ông lúc này nên rón rén lui xuống bếp
và âm thầm chùi những giọt lệ tủi đang ứa ra. Mùi thịt thơm làm ông Phúc như chợt tỉnh, ông bước đến bàn ăn, kéo ghế ngồi và gọi vọng xuống bếp:
         - Mình ơi, xong cả chưa,lên ăn thôi.
        - Dạ, em lên ngay đây.
          Bà Phúc bưng lên một đĩa xôi nghi ngút khói đặt lên bàn và kéo ghế ngồi đối diện với ông, bà nhỏ giọng:
        - Mình làm Dấu đi.
          Ông Phúc nhận ra sự khác lạ của vợ nhưng ông vẫn tảng lờ đặt tay phải lên trán:
        - Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần. Amen. Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vì lương thực tốt lành Chúa ban cho chúng con trong đêm Giáng Sinh này, xin Chúa cũng nhớ đến còn nhiều con cái khác của Người đêm nay phải nhịn đói hay đang phải gian nan khắp nơi trên thế giới mà rủ lòng thương cứu giúp họ, chúng con cầu xin nhờ Danh Chúa Giê-Su Ki-Tô, Chúa chúng con.
          Bà Phúc nhỏ nhẹ thưa:
       -Amen.
          …Dùng bữa xong, bà Phúc vội thu dọn mọi thứ xuống rửa ráy, ông rót ly trà nóng định uống, bỗng nhớ lại gương mặt vợ trước bữa ăn nên vội vàng theo vợ xuống bếp, ông nói thẳng với vợ chứ không úp mở:
       - Lúc nãy có phải mình buồn vì chuyện son sẻ phải không?
         Không để cho bà Phúc tránh né, ông tiếp luôn:
       - Mình đừng buồn, Chúa đã định vậy mà.
          Ông bước đến, ôm vợ trong vòng tay và định hôn bà nhưng bà cố vùng ra:
       - Đừng, em chưa rửa miệng, mới ăn xong…
          Ông ôm chặt bà trong cánh tay mình và dịu dàng hôn vợ hồi lâu, khi buông bà ra ông bỗng phá lên cười làm bà ngượng đỏ bừng mặt. Ông cố nín cười và hỏi vợ:
       - Tôi đố mình hạnh phúc có mùi gì?
          Bà Phúc mặt đỏ bừng vừa quay đi vừa lắc đầu. Ông càng cười to hơn, hoá ra đến tuổi này ông mới biết thì ra… hạnh phúc có mùi thịt gà.

                       &&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&&
                                         Giu-se Nguyễn văn Sướng.

GIẢI TRÍ: LÔ TÔ






Bài số 1 (11).

Cu Tèo đố mẹ
Thiên Thần: Gái, trai?
Mẹ ngồi gãi tai
Thiên Thần: Lớn, nhỏ?
Mẹ ngồi mặt đỏ:
"Con mẹ giỏi ghê
Giáo lý khỏi chê
Khi nào bí rị
Có Tèo mẹ trị
Con mẹ chuyên chăm
Học đứng học nằm
Tèo là số một"
Là con…một

 
Bài số mốt.

Một tốt yêu Chúa
Hai tốt yêu người
Cuộc sống vui tươi
Chan hòa yêu mến
Ba tốt là nến
Thắp sáng đêm đen
Bốn tốt là men
Dậy đời thơm thảo
Anh em thuận hảo
Làng xóm đều khen
Gương tốt đua chen
Gia đình năm tốt
Là con…mốt.


 
Bài số 2.

Nước Trời như ngọc
Chôn dưới ruộng sâu
Ông lái mưu cầu
Bán nhà mua ruộng
Nước Trời ưa chuộng
Kẻ mạnh bước vô
Nước Trời lưới thô
Nước Trời hạt cải
Muốn hiểu thì phải
Giáo lý dài dài
Là con…hai.

Bài số 3.

Xem Gô-Li-Át
To lớn biết bao
Mà Chúa trên cao
Dùng tay Đa-Vít
Chỉ là nhỏ nít
Hạ nhục kiêu căng
Tèo có biết chăng
Trọn niềm tin tưởng
Chúa là phần thưởng
Gia nghiệp của ta
Là con…ba.

Bài số 4.

Em tự hỏi mình
Sao chim có cánh
Tia nắng lấp lánh
Trời đất bởi đâu?
Vạn vật muôn mầu
Bông hoa màu đỏ
Mắt nhìn sáng tỏ
Em thở tự do
Không khí Ai cho
Tha hồ chẳng tốn
Là con…bốn.  

 
Bài số 5.

Đi học Giáo lý
Lại chỉ cóp-bi (copy)
Chúa sẽ nghĩ gì!
Ai nói xấu đạo
Bênh vực chẳng thạo
Xấu hổ ngồi im
Sao chẳng kiếm tìm
Nước Trời thông thái
Khôn ngoan gặt hái
Giáo lý chuyên chăm
Là con…năm.

Bài số 6.

Cu Tèo hỏi mẹ
"Vô cùng là sao?"
"Con thấy trời cao
Bay hoài không hết
Mặt trời chẳng chết
Sáng mãi không thôi
Vũ trụ có rồi
Và còn có mãi
Mà vẫn chưa phải
Vô cùng vô cùng
Chúa mới vô cùng!
Nhớ truyền con cháu"
Là con…sáu.

Bài số 7.

Phong trào sống thử
Dậy khắp mọi nơi
Chẳng kể đạo Trời
Coi thường luân lý
Miễn là đắc ý
Lỡ trót mang thai
Đòi phá một hai
Đời này mang nhục
Đời sau hỏa ngục
Gương mẫu khiết trinh
Phải học răn mình
Con ơi nhớ lấy
Là con …bẩy

 
Bài số 8.

Mẹ cha ly dị
Con cái vạ lây
Cuộc sống sa lầy
Chia ly đôi ngã
Cơ cầu tất tả
Được mẹ mất cha
Ba lấy quyền ba
Mẹ ôm lý mẹ
Tòa xử mau lẹ
Lũ con bơ vơ
Nhìn nhau thẫn thờ
Một trời u ám
Là con…tám.

Bài số 9.

Hoa huệ ngoài đồng
Không gặt không vãi
Chim muông đầu bãi
Chắng cấy chẳng gieo
Anh bảo cu Tèo:
“Chúa cho no đủ
Vì Người là chủ”
Đừng quá ưu tư
Cha rất nhân từ
Em hằng xác tín
Là con…chín.

Bài số mười(mươi).

Trọng tâm giáo lý
Là chính Giê Su
Ánh sáng người mù
Phục sinh người chết
Lời sau hết
Chúa nói với ta
Đường dẫn đến Cha
Cội nguồn Chân
Sự Sống Thần Khí
Những ai tin Người
Là con…mười
Là con…mươi.

-----------------
Giu-se Nguyễn văn Sướng